1. GLP-1 có các tính chất hóa học và sinh học điều tiết tiết đường huyết và cân nặng nên GLP-1 và DPP-4 thảo luận trong phần này. GLP-1 phân bố chủ yếu ở đại tràng nhưng cũng thấy ở tá tràng. Chúng là những peptid có tác dụng kích sinh insulin, có đời sống chỉ 2 phút và bị phá hủy bởi DPP_4 nhanh chóng.

2. Fructans chất xơ hòa tan

   Hiệp hội ADA đã thiết lập mối liên hệ giữa việc ăn nhiều chất xơ hoà tan, điều hòa đường huyết và tiết insulin ở bệnh nhân T2D. Inulins là các sợi thực phẩm hòa tan được trong nước, tủa trong cồn làm từ các loại rau quả chuỗi ngắn có trong rễ của rau diếp xoăn, măng tây, tỏi và Actiso ... Một nghiên cứu cho thấy fructans loại Inulin có thể ngăn ngừa bệnh béo phì, chứng xơ mỡ và tăng đường huyết. Hơn nữa, fructans đã được chứng minh kích thích sự bài tiết incretin trong ruột kết của chuột thông qua quá trình lên men của chúng. 

Cho ăn 5 tuần inulin/fructan giảm đáng kể thân trọng, giảm khẩu phần, và nồng độ glucose trong máu ở chuột. Sự gia tăng mức GLP-1 đã được quan sát thấy ở tĩnh mạch cửa và đại tràng lên. Hiện vẫn chưa rõ liệu fructans có thể tăng cường sản xuất incretin ở người có T2D.

 

3. Axit béo không bão hòa đơn.

   Các điều tra dịch tễ học đã xác lập mối quan hệ chất béo đơn chưa bão hòa - T2D. Chất béo này đã được tìm thấy kích thích tiết incretin, tăng mức GLP-1 trong huyết tương. Tuy nhiên, không có sự khác biệt đáng kể về mức độ glucose máu, insulin.

4. Các loại thảo mộc và các hợp chất điều chỉnh sự hấp thụ glucose trong ruột

4.1. Các dẫn xuất serotonin và safflower

   Hạt đậu lăng được chứng minh là ức chế hoạt động của α glucosidase ở mức độ cao hơn acarbose, nên là thức ăn có lợi cho T2D.

4.2. Butyl-isobutyl-phthalate và Laminaria japonica (côn bố)

   Rhizoid của tảo bẹ Nhật Bản, L. japonica , đã được sử dụng để điều trị bệnh tiểu đường. Butyl-isobutyl-phthalate, một hợp chất hoạt động của L. japonica , có ức chế hoạt động αglucosidase in vitro và tác dụng hạ đường huyết trên chuột bị tiểu đường do STZ gây ra.

4.3. Thảo mộc và các hợp chất có nhiều tác dụng trị liệu

   Một số cây trồng và hợp chất thực vật có thể nhắm mục tiêu nhiều đường trao đổi chất. Các tính chất hóa học và sinh học của các hợp chất thảo luận trong phần này được tóm tắt trong 

4.4. Berberine trong Hoàng liên gai

   Berberine, alkaloid isoquinoline, lần đầu tiên được phân lập từ Berberis vulgaris . Hợp chất này có nhiều chức năng khác nhau, từ ức chế viêm và ức chế ung thư đến giảm hội chứng chuyển hóa và các hoạt động khác. Đối với T2D, hợp chất này hạ đường huyết, giảm đề kháng insulin, kích thích tái tạo β tế bào tụy và giảm peroxid hóa lipid trong mô hình chuột của T2D. Do đó, nó có thể hữu ích trong điều trị T2D và các loại bệnh tiểu đường khác. Một nghiên cứu phân tích meta cho thấy rằng berberine không kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân T2D. Điều trị kết hợp berberine với các OAAs khác cho thấy kiểm soát đường huyết tốt hơn so với điều trị đơn thuần. Lưu ý, berberine có tác dụng chống đông máu nhẹ ở bệnh nhân.

4.5. Mướp đắng

   Mướp đắng - Momordica charantia được sử dụng trong y học ấn độ. Hoạt tính sinh học của nó có liên quan đến tác dụng chống bệnh đái đường. Một nghiên cứu in vitro cho thấy nó có thể làm tăng bài tiết insulin từ tế bào β . Hơn nữa, dữ liệu về miễn dịch cho thấy nước ép của mướp đắng tăng tế bào β trong tuyến tụy của chuột được điều trị bằng STZ. Các phương thức hoạt động của mướp đắng bao gồm tiết insulin, ức chế hấp thu glucose trong ruột, bảo quản các tế bào β, và chức năng của chúng, tăng việc sử dụng glucose ngoại biên, và ức chế enzym gluconeogenic. Lưu ý, chất momorcharin và momordicin, phân lập từ mướp đắng làm giảm glucose huyết vì có cấu trúc hóa học giống insulin.

4.6. Capsaicin từ Ớt

   Chiết xuất ớt có tác dụng insulinotropic, có nghĩa là hoạt động của nó đối với các tế bào β . Capsaicin, phần cay của ớt kích hoạt AMPK, ức chế 3T3-L1. Các dữ liệu cho thấy ớt và các thành phần hoạt tính của nó ngăn ngừa T2D thông qua việc điều chỉnh kháng insulin và có thể là tế bào β . Tuy nhiên, có một sự khác biệt về việc sử dụng capsaicin để điều trị T2D. Capsaicin có thể gây T2D qua sự suy giảm tiết insulin. Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng capsaicin cho T2D.

4.7. Nhân sâm

   Nhân sâm ( Panax ginseng ) đã được xem như là thuốc chữa bách bệnh trong y học phương đông. Nhân sâm và nhân sâm Bắc Mỹ ( P. quinquefolius ) đã chứng minh làm giảm đường huyết trong các mô chuột gặm. Một số nghiên cứu lâm sàng đã chứng minh rằng nhân sâm P. ginseng và nhân sâm Bắc Mỹ cải thiện kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân T2D. Tuy nhiên, một nghiên cứu khác đã báo cáo rằng nhân sâm không có tác dụng hạ đường huyết đối với bệnh nhân tiểu đường. Sự khác nhau này có thể là kết quả của sự biến đổi ginsenosides hoạt tính trong nhân sâm. Cơ chế hạ glucose của cả nhân sâm có thể làm giảm sự đề kháng insulin và chức năng β- cell. Ginsenosides là thành phần chính trong rễ nhân sâm được cho là có lợi cho sức khoẻ. Chất chiết xuất từ ​​gốc nhân sâm đã được chứng minh là bảo vệ chống lại quá trình apoptosis của tuyến tụy β, tế bào Min-6. Một nghiên cứu đề xuất rằng nhân sâm làm thay đổi chức năng ty thể cũng như các đợt apoptosis để đảm bảo khả năng sống sót của tế bào ở các tế bào đảo tụy. Hơn nữa, ginsenosides từ chiết xuất nhân sâm được báo cáo là có trách nhiệm bảo vệ này trong ống nghiệm. Một nghiên cứu cho biết ginsenoside Rh2 là một hợp chất hoạt động cải thiện khả năng đề kháng insulin ở những con chuột ăn chay giàu chất fructose. Bên cạnh đó, ginsenoside Re được chứng minh là có hoạt tính chống oxy hoá thông qua việc điều chỉnh glutathione và malondialdehyde trong thận và / hoặc mắt. Tuy nhiên, trong cơ thể đóng vai trò bảo vệ của chiết xuất và ginsenosides trong β tế bào vẫn được xác minh thêm.

4.8. Nghệ

   Giống như nhiều gia vị như tỏi và gừng, củ nghệ cho thấy tác dụng hạ đường huyết và hypolipidemic trên chuột bị tiểu đường. Củ nghệ cũng tăng nồng độ insulin huyết thanh sau ăn để duy trì lượng đường trong máu ở người khỏe mạnh. Curcumin là một thành phần chính của bột củ nghệ ( Curcuma longa ) và thường được sử dụng làm thực phẩm và thuốc men ở miền nam châu Á. Curcumin và thân rễ củ nghệ hiển thị một số hoạt động sinh học như chất chống oxy hóa, chống viêm, trị đái tháo đường, và điều hòa miễn dịch. Curcumin đã được sử dụng để điều trị T2D trong dân gian và y học phương đông. Weisberg và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng chất curcumin đảo ngược nhiều Loạn viêm và trao đổi chất liên quan đến bệnh béo phì và cải thiện kiểm soát đường huyết ở mô hình chuột mắc bệnh tiểu đường type 2. Chuengsamarn và các đồng nghiệp cho thấy, sau 9 tháng điều trị, một nhóm chất curcumin được điều trị cho thấy chức năng  β –cell tốt lên, với đánh giá đo lường hằng định nội môi cao (HOMA) - beta và thấp hơn C-peptide. Ngoài ra, các nhóm chất curcumin được điều trị cho thấy một mức độ thấp hơn kháng HOMA insulin (IR). Nghiên cứu này đã chứng minh rằng chất curcumin có thể ngăn chặn T2D ở người.

4.9. Gingerol and Ginger (gừng)

   Gừng, Zingiber officinale , thường được sử dụng như một thành phần trong thực phẩm và y học gọi là sinh khương, can khương. Dữ liệu thuyết phục cho thấy chiết xuất gừng có hạ đường huyết, insulinotropic, và các hiệu ứng mẫn cảm đối với con người khỏe mạnh và trên động vật thí nghiệm. Gần đây hơn, Li và các cộng sự đã báo cáo rằng chiết xuất gừng tăng cường sự giải phóng insulin và giảm đề kháng insulin. Một nghiên cứu lâm sàng cho biết tiêu thụ bột gừng, 3 g mỗi ngày trong 30 ngày, giảm đáng kể glucose và lipid máu ở bệnh nhân T2D. Ngược lại, một nghiên cứu khác nói rằng tiêu thụ bột gừng, 4 g mỗi ngày trong vòng 3 tháng, không làm thay đổi lượng đường trong máu và lipid ở bệnh nhân bệnh động mạch vành. Sự khác biệt này có thể là kết quả của sự thay đổi trong thành phần hóa học của các chế phẩm gừng khác nhau. Gingerol và shogaol là các hợp chất hoạt tính chính trong chiết xuất từ gừng. Gingerol được chứng minh là làm giảm bớt natri asenit gây ra T2D. Sự suy giảm này liên quan đến bảo vệ đảo cell và tăng thụ thể insulin hiệu. Vai trò của shogaol trong điều trị T2D không rõ ràng.

4.10. Epigallocatechin 3-gallate (EGCG) trong chè xanh

   Trà một thức uống và thức ăn bổ sung từ thời cổ đại ở Trung Quốc. Nó được làm từ lá và chồi lá của sinensis Camellia. Một trong những lợi ích sức khỏe tuyên bố của loại trà này là giảm rủi ro T2D và cải thiện các T2D. Trà xanh và trà ô long có thể ngăn ngừa và / hoặc cải thiện bệnh tiểu đường type 2 ở người và các mô hình chuột thí nghiệm. EGCG, một flavonol trong trà, đã được chứng minh là có hoạt động trị đái tháo đường ở loài gặm nhấm. EGCG dường như trị đái tháo đường bằng bao gồm bảo vệ đảo tụy, tăng bài tiết insulin, tăng dung nạp insulin, và giảm gluconeogenesis. Vai trò của EGCG trong việc bảo vệ đảo đã được hiển thị để bảo vệ chống β chết -cell trung gian bởi cù lao amyloid polypeptide (IAP) trong ống nghiệm. EGCG đã được báo cáo để kích hoạt AMPK trong tế bào mỡ nên có tac dụng chống béo phì.

4.11. Ishige okamurae

   I. okamurae , một rong biển nâu ăn, làm giảm đường huyết trong bệnh tiểu đường chuột db / db. Hoạt động của nó liên quan đến việc giảm đề kháng insulin và điều chỉnh của các enzym chuyển hóa glucose ở gan. Diphlorethohydroxycarmalol, một phlorotannin của I. okamurae , ức chế hoạt tính của α -glucosidase và α -amylase. Hợp chất này cũng làm giảm nồng độ glucose máu trong mô hình streptozotocin ở chuột bình thường.

4.12. Đậu tương

   Đậu nành được coi là một nguồn protein quan trọng đối với thực phẩm. Isoflavones đậu nành đã được báo cáo để điều trị xơ vữa động mạch, ung thư, loãng xương, và những người khác. Bên cạnh đó, protein đậu nành và isoflavonoid trong đậu nành cải thiện tình trạng kháng insulin và tăng cường sự giải phóng insulin. Genistein là một isoflavone chính có trong đậu tương và thực vật ăn được khác và đã được báo cáo là có chống ung thư, chống oxy hóa, chống viêm, và antiosteoporosis hoạt động. Gần đây hơn, genistein đã được báo cáo để điều trị bệnh béo phì và tiểu đường. Đây là hợp chất bảo quản hàng loạt đảo tụy bằng cách tăng β-cell. Các dữ liệu chứng minh rằng genistein có thể ngăn chặn T2D thông qua một hành động bảo vệ trực tiếp trên β tế bào mà không làm sai của độ nhạy insulin ngoại vi. Hơn nữa, cơ chế trị đái tháo đường của nó liên quan đến sự hoạt hóa của protein kinase A (PKA) và kinase-tín hiệu có quy định ngoại bào (ERK) 1/2. Tuy nhiên, cũng nên xem xét một tuyên bố rằng genistein có thể kích hoạt AMPK và, dẫn đến việc giảm độ nhạy cảm insulin. Genistein cải thiện biến chứng tiểu đường chẳng hạn như rối loạn chức năng mạch máu và chữa lành vết thương. Trong một thử nghiệm lâm sàng, genistein và / hoặc đậu tương chiết xuất làm giảm nguy cơ T2D ở phụ nữ thừa cân.

   Đáng chú ý, đậu nành đã được chứng minh để thúc đẩy sự bài tiết insulin và GLP-1. Glyceollins, các phytoalexin có trong đậu nành được chứng minh giảm tăng đường huyết. Các hợp chất này có thể cải thiện sự tiết insulin glucose được kích thích và ngăn chặn quá trình apoptosis và rối loạn chức năng trong β tế bào trong sự hiện diện của palmitate. Theo đó, tăng cường glyceollins GLP-1 tiết trong các tế bào NCI-H716, một dòng enteroendocrine tế bào L ruột. Hoạt động trị đái tháo đường của chiết xuất đậu nành giàu glyceollin đã được khẳng định ở chuột mắc bệnh tiểu đường.

   Tóm lại, đậu tương và / hoặc các thành phần hoạt động của nó tác động vào T2D qua nhiều con đường chủ yếu là liên quan đến tình trạng kháng insulin, β -cell chức năng, và GLP-1 sản xuất.

4.13. Rutin hòe hoa. Trị tiểu đường và viêm võng mạc mắt  theo Đông Kinh Dược Vật Chí.Rutin trong hòe hoa làm giảm nồng độ glucose huyết tương và tăng sự giải phóng insulin trong mô hình STZ ở chuột. Một hỗn hợp aspalathin / Rutin với tỷ lệ 1: 1 giảm glucose trong máu ở chuột mắc bệnh tiểu đường gây ra bởi STZ. Ngoài ra, rutin tăng sự hấp thu glucose ở tế bào gan trong ống nghiệm và trên chuột in vivo, rằng Rutin giảm kháng insulin. Gộp chung lại, có lẽ có tác dụng với T2D qua nhắm mục tiêu kháng insulin, beta -cell, và ức chế α -glucosidase.

4.14. Aloe vera của cây nha đam

   A. vera giảm đường huyết và cholesterol máu ở những bệnh nhân tiểu đường. Tác dụng trị liệu đái tháo đường được quan sát thấy trong mô hình alloxan- STZ ở chuột. Aloeresin A, hợp chất của A. vera ức chế α -glucosidase. A. vera còn đường huyết và kháng insulin.

4.15. Quercetin trong thực vật

   Quercetin là một flavonoid được phân bố rộng rãi trong các loại cây dùng để điều trị viêm, nhiễm virus, ung thư, và hội chứng chuyển hóa. Nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng quercetin có thể điều trị T2D trong mô hình STZ- và alloxan trên chuột db / db. Gần đây hơn, hợp chất này đã được chứng minh là gây giảm ăn và giảm lượng đường trong máu sau ăn ở chuột db / db tiểu đường. Acarbose, quercetin ức chế α hoạt động –glucosidase, ức chế hoạt động DPP-4 in vitro. Tuy nhiên, vẫn chưa rõ liệu hợp chất này có thể kích thích sản xuất GLP-1 trong cơ thể. Tóm lại, các dữ liệu cho thấy rằng quercetin, một flavonoid thường được tìm thấy trong thực vật, kiểm soát kiểm soát đường huyết qua giảm hấp thu glucose ở ruột, và có lẽ, GLP-1 tiết.

4.16. Resveratrol trong rễ tơ cây lạc.

   Resveratrol là một hợp chất stilbene, thấy trong rễ tơ của hạt lạc đang mọc mầm và rễ. Nó có một loạt các hoạt động sinh học như hepatoprotective, chống ung thư, chống viêm, điều hòa miễn dịch, trị đái tháo đường, và các hoạt động khác. Resveratrol đã được chứng minh để điều trị bệnh tiểu đường và các biến chứng liên quan trong các mô hình động vật gặm nhấm. Thứ nhất, hợp chất này có thể kích hoạt AMPK và các phân tử hạ lưu, dẫn đến giảm tình trạng kháng insulin ở chuột db / db, ngăn chặn sự chết của tụy β  gây ra bởi IAP. Resveratrol tăng cường bài tiết insulin trong β tế bào thông qua hoạt hóa SIRT1. Một nghiên cứu lâm sàng chỉ ra rằng resveratrol có thể cải thiện kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân T2D. Nói chung, resveratrol cải thiện tình trạng T2D và các biến chứng qua các tình trạng kháng insulin và β -cell.

4.17. Cà phê

   Một số nghiên cứu đã chứng minh mối liên quan giữa tiêu thụ cà phê và cải thiện dung nạp glucose và sự nhạy cảm insulin và làm giảm nguy cơ T2D. Tuy nhiên, cơ chế chưa rõ, một nghiên cứu trên những người tiêu thụ cà phê chứa caffeine và không chứa caffein cho thấy không có sự khác biệt trong nguy cơ T2D và sự nhạy cảm insulin ở người sau 8 tuần. Caffeine cải thiện chức năng của tế bào mỡ và gan. Cà phê là một trong những nguồn chính của chất chống oxy hóa chế độ ăn uống. Tiêu thụ cà phê cũng có thể làm tăng GLP-1 nên cà phê có lợi cho T2D và các biến chứng của nó.

(biên dịch và viết)

Doctor SAMAN

Bs Hoàng Sầm

Chủ tịch Viện Y học bản địa Việt Nam

Bình luận

Tin cùng chuyên mục

Glycation và tiểu đường típ II (TD2)
Doctor SAMAN 22/12/2018

Glycation và tiểu đường típ II (TD2)

Glycation là kết quả của liên kết cộng hóa trị của một phân tử đường có thể là glucose hay fructose với một phân tử protein hay lipid, không...

CÂY THUỐC DÂN DAO ĐỎ TRONG MỸ PHẨM THƯƠNG HIỆU “DOCTOR SAMAN”
Doctor SAMAN 23/01/2018

CÂY THUỐC DÂN DAO ĐỎ TRONG MỸ PHẨM THƯƠNG HIỆU “DOCTOR SAMAN”

Ở Việt nam, người Dao đỏ là một trong những cộng đồng dân tộc thiểu số có nhiều bài thuốc quý và nổi tiếng, đặc biệt là  thuốc tắm, rửa...

Tiêu chuẩn Chè Organic EU Tả Phìn Hồ, Hà Giang
Doctor SAMAN 01/01/2018

Tiêu chuẩn Chè Organic EU Tả Phìn Hồ, Hà Giang

Tả Phìn Hồ có độ dốc cao, chia cắt mạnh, nhiều suối, thác, khí hậu mát lạnh, sương mù quanh năm, độ cao 1300-1900m. Đây là điều kiện thuận l...

Đang xử lý
Quý khách vui lòng chờ trong giây lát...